Một số điều cần quan tâm khi đầu tư máy cắt dây tia lửa điện

Gia công tia lửa điện (Electrical Discharge Maching) là một trong những công nghệ gia công cơ khí hiện đại và đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp sản xuất ô tô xe máy, điện tử, máy bay, y tế … Các máy gia công tia lửa điện thường được sử để gia công khuôn mẫu và sản phẩm cơ khí đòi hỏi chính xác cao, có biên dạng khó và có độ cứng cao mà gia công trên các máy công cụ thông thường không hiệu quả hoặc không đáp ứng được.

Với tính công nghệ đặc thù không giống như các công nghệ phay tiện thông thường, Việc lựa chọn đầu tư máy gia công tia lửa điện, đặc biệt là máy Cắt dây tia lửa điện (Wire cut EDM) có nhiều điểm cần được quan tâm xem xét. Dưới đây là một số kinh nghiệm được tổng hợp, phân tích và chia sẻ với các bạn đọc để có thể có một quyết định đúng khi đầu tư mua một máy cắt dây mới cho đơn vị sản xuất của mình. Sau khi, đã xác định nhu cầu đầu tư trên cơ sở phân tích các yếu tố nguồn tài chính và khối lượng công việc, thì các yếu tố kỹ thuật liên quan đến thiết bị cần được xem xét như sau:



1) Kích thước : Dựa trên kích thước, hình dạng chi tiết dự kiến gia công dự kiến, xác định bạn cần cỡ máy như thế nào?

- Lưu ý bạn cần về kích thước bàn gia công hay hành trình của bàn công tác ( các trục X,Y,Z,U,V) của máy;

- Kích thước chi tiết tối đa có bị hạn chế bởi thùng làm việc (worktank)

- Sản phẩm cao nhất mà bạn có thể có; - Khối lượng vật gia công lớn nhất là bào nhiêu?

Ngoài ra cần xem xét các yếu tố liên quan đến điều kiện lắp đặt máy? (Độ cao của trần, rộng sàn, không gian làm việc của người vận hành có đủ, các nguồn điện, nước, khí, nhiệt độ, thoát nước...)

2) Tốc độ cắt :

Cần xem xét đến các yếu tố

- Sản xuất chi tiết này cần thời gian trong bao lâu để có thể có lợi nhuận

- Loại dây cắt nào phù hợp với mục đích trên (loại dây, đường kính dây, khả năng mua bán dây trên thị trường, giá cả?)

- Tốc độ cắt lý tưởng có phù hợp với độ chính xác và độ nhẵn bóng bề mặt yêu cầu.

Về vấn đề tốc độ cắt cần lưu ý: Thông thường tốc độ cắt của máy cắt dây được xác định bởi đơn vị mm2/giờ; inch2/giờ. Tốc độ này thường được xác định với loại dây đồng đường kính 0.2mm. Trong khi, nhiều máy có bộ nguồn công suất lớn, sử dụng dây đường kính lớn có thể đạt được tốc độ cắt rất cao. Do vậy nếu lựa chọn máy chỉ dựa trên tốc độ cắt không phải bao giờ cũng là tốt nhất. Mặt khác, tốc độ cắt càng cao thì độ chính xác và nhẵn bóng càng bị hạn chế. Nếu bạn gia công một chi tiết không phải là biên dạng đơn giản, cần lưu ý KHÔNG PHẢI LÀ BẠN CẮT ĐƯỢC NHANH BAO NHIÊU MÀ LÀ HOÀN THIỆN SẢN PHẨM ĐÓ NHANH ĐƯỢC BAO NHIÊU.

3) Độ chính xác :

- Những độ chính xác nào mà sản phẩm của bạn đòi hỏi, độ chính xác nào là đòi hỏi cao nhất ? (Chính xác đường thẳng, chính xác định vị, chính xác hình học ).

- Để đạt độ chính xác này bạn phải mất bao lâu ? (thời gian gia công và số lần cắt)

- Những điều kiện đặc biệt (nếu cần) để đạt được độ chính xác này (Hệ thống làm mát dung môi, Nhiệt độ môi trường xung quanh...)

4) Độ nhẵn bóng bề mặt :

- Độ nhẵn bóng nào thì chấp nhận được đối với sản phẩm dự kiến gia công?

- Độ nhẵn bóng tối đa mà máy có thể đạt được - Có những tuỳ chọn nào có thể giúp máy đạt độ nhẵn bóng cao hơn (thông thường là các option liên quan đến hệ mạch phóng điện)

- Mất bao lâu để đạt được độ nhẵn bóng yêu cầu. - Nguyên công gia công tia lửa điện ảnh hưởng thế nào đến bề mặt thành phẩm?

5 ) Các đặc tính cơ bản liên quan đến quá trình cắt:

5.1 Cần sử dụng chế độ cắt nào Cắt chìm (Submerge) hay cắt xối (Flushing)

- Các chi tiết có cần cắt phải cắt chìm.

- Trong trường hợp cắt chìm thì giới hạn kích thước và khối lương vật cắt là bao nhiêu? (Đối với máy có cả khả năng cắt chìm và cắt xối, thì khối lượng và kích thước vật cho phép ở chế độ cắt chìm thường bị hạn chế nhỏ hơn so với chế độ cắt xối)

5.2 Đường kính dây cắt

- Bán kính góc cong nhỏ nhất mà vật gia công đòi hỏi là bao nhiêu?

- Dải phạm vi đường kính dây cắt tiêu chuẩn của máy là bao nhiêu?

- Nếu cần mở rộng phạm vi đường kính dây cắt thì phải mua thêm những option gì

- Liệu tất cả các đường kính dây có phù hợp với hệ thống xỏ dây tự động của máy? 5.3 Có cần hệ xâu dây tự động?

- Chi tiết có nhiều lỗ cắt ban đầu và hoặc cần nhiều lần xâu dây không? - Có thời gian nào máy hoạt động không có người vận hành?

- Việc xâu dây tự động có phụ thuộc vào loại dây cắt? Hệ thống xây dây tự động của máy cắt dây EDM 5.4 Góc cắt côn nghiêng

- Hành trình tối đa trục U,V? - Góc cắt côn tối đa ? - Ở chiều dầy cắt bao nhiêu? 5.5 Các tùy chọn để đạt độ nhẵn bóng cao

- Cắt chìm giúp nâng cao chất lượng gia công

- Cắt trong môi trường dầu cho chất lượng tốt hơn.

6) Giao diện

Các hãng máy EDM thường phát triển hệ điều khiển riêng trên nền PC

- Hệ thống/ Ngôn ngữ lập trình gì?

- Có tương thích với các hệ thống lập / phần mềm khác bạn đang sử dụng ?

- Máy có các chương trình hỗ trợ gia công như thế nào ? 7) Khả năng tự động hóa:

- Máy có thể chạy tự động bao lâu? - Độ tin tưởng của hệ thống xâu dây tự động khi máy chạy dưới các điều kiện vận hành dự kiến?

- Máy có khả năng sử dụng những loại cuộn dây loại mấy kg (thường là 5, 10, 20)?

- Hệ thống thoát dây như thế nào ?

- Khi sử dụng liên tục, các chi tiết bộ lọc, tấm tiếp điện, chất trao đổi ion… sử dụng được trong bao lâu?

- Có vấn đề gì trong trường hợp mất điện.

8) Độ tin cậy của thiết bị :

- Nhà sản xuất đã hoạt động bao lâu trong lĩnh vực này

- Tổng số lượng máy EDM/WEDM đã bán ra/ sử dụng

- Tổng số lượng model máy loại này đã bán ra/sử dụng

-Các tham khảo về người sử dụng ?

9) Các vấn đề về bảo trì :

Nếu mua máy, khoảng cách thời gian yêu cầu cho bảo trì là bao nhiêu đối với các bộ phận?

- Hệ xâu dây tự động

- Bộ phận cắt dây

- Hệ thống quay định vị

- Dây đai

- Hệ bôi trơn

10) Vật tư tiêu hao:

Theo nhu cầu sử, thời gian và chi phí với các vật tư tiêu hao là bao nhiêu ?

- Bộ lọc

- Chất trao đổi ion

- Tấm tiếp điện

- Dẫn hướng dây

- Dây đai truyền động

- Lọc khí

Đối với các vật tư tiêu hao, trên thông thường tốt nhất là mua của đúng hãng sản xuất máy. Tuy nhiên, trên thế giới cũng có nhiều hãng chuyên sản xuất vật tư tiêu hao cho lĩnh vực máy cắt dây tia lửa điện với chất lượng cũng không kém.

Cuối cùng, các yếu tô vô hình nhưng cũng hết sức quan trọng mà người sử dụng cần cân nhắc đến là khả năng Dịch vụ và hỗ trợ kỹ thuật và Chế độ bảo hành của nhà cung cấp. Nếu có điều kiện, bạn có thể tìm hiểu thông tin trực tiếp từ các hãng sản xuất hoặc đại diện, đại lý chính thức của hãng tại khu vực để có được thông tin đây đủ.

Việc đi khảo sát thực tế máy tại các cuộc triển lãm, tại show-room của hãng hay yêu cầu chạy gia công thử cũng sẽ giúp bạn có được một kết luận đúng nhất trước lúc đầu tư.


Nguồn: http://www.vietmachine.com

Dây Điện Bằng Cao Su Có Thể Giãn Tới 8 Lần

Các nhà nghiên cứu Trường ĐH Bắc Carolina (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu thành công một loại dây dẫn điện có thể kéo giãn ra 8 lần như bất cứ một sợi dây chun nào. Sau rất nhiều lần giãn ra co vào như vậy “sợi dây điện cao su” vẫn giữ nguyên được những tính năng kỹ thuật của mình.


Loại dây điện mới có thể co giãn như cao su.

Phát minh này mở ra một triển vọng rộng lớn cho ngành điện tử học trong nhiều ứng dụng, từ tai nghe đến những bộ quần áo “thông minh” có may kèm những vi mạch điện tử.

Để sản xuất các dây dẫn này, người ta sử dụng những ống cực nhỏ làm bằng polime đàn hồi, chứa các hợp kim lỏng của 2 kim loại là gali và inđi dạng lỏng, là những chất dẫn điện tuyệt vời.

Trước đây, các nhà khoa học đã có ý đồ tạo ra dây dẫn đàn hồi bằng cách “dệt” những dây kim loại vào polime đàn hồi những không đạt được những kết quả mong muốn. Sản phẩm thu được không thể kết hợp được độ bền và độ đàn hồi.

Loại dây dẫn mới giữ nguyên được tính chất của các vật liệu ban đầu, vừa có độ bền cao, độ đàn hồi tốt cùng với độ dẫn điện ưu việt.

Việc sản xuất ra các loại dây dẫn mới này không đòi hỏi những quá trình công nghệ phức tạp và giá thành cũng không quá cao. Tuy nhiên cũng còn một vấn đề mà các nhà phát minh cần phải khắc phục, đó là ngăn chặn sự rò rỉ kim loại đến mức tối thiểu mỗi khi dây dẫn bị đứt.


Theo Vietnamnet

Chủng Loại Và Đặc Điểm Của Bạc Đạn

    Bạc đạn thường bao gồm vành trong, vành ngoài, các thành phần lăn và vòng cách định vị viên bi tại những khoảng cách cố định giữa cách rãnh bi. 
   Vật liệu tiêu chuẩn để sản xuất có hàm lượng carbon crom cao và vòng cách bằng thép cứng.
   Để việc chọn lựa bạc đạn đạt hiệu quả cao, cần phải hiểu rõ thiết kế và đặc điểm của từng loại vòng bi khác nhau để chọn bạc đạn thích hợp.

1/ Vòng bi tròn có rãnh sâu:
   Là loại thông dụng nhất bởi sự đa dạng về chủng loại: 
- Z:       Nắp chặn bằng sắt ở một phía.
- 2Z:     Nắp chặn bằng sắt ở 2 phía.
- RS1:  1 nắp cao su (nắp này thường làm bằng sắt bọc cao su)
- 2RS1: 2 năp cao su ở 2 phía.
   Bạc đạn này chịu tải trọng hướng tâm, tải trọng dọc trục và vận hành tốc độ cao.
2/ Vòng bi tròn đỡ chặn tiếp xúc góc một dãy:
   Các rãnh chạy của vành trong và vành ngoài được chế tạo với góc tiếp xúc. Vòng bi này là loại không thể tách rời. Các viên bi được lắp vào kết cấu vòng trong đối diện, số bi được lắp nhiều hơn so với vòng bi tròn rãnh sâu.
   Loại này chịu được lực hướng tâm, dọc trục, tuy nhiên lực dọc trục chịu theo một hướng nhất định.Thông thường thì hay ghép cặp 2 vòng bi loại này, chúng có thể chịu được tải dọc trục hai hướng do tải trong hướng tâm sinh ra.
3/ Vòng bi đỡ chặn tiếp xúc góc 2 dãy:
   Cấu trúc vòng bi này tương tự gần như gắn 2 vòng bi tròn đỡ chặn tiếp xúc góc một dãy ghép theo kiểu lưng đối lưng.
   Những loại vòng bi này có thể chịu tải hướng tâm, lực moment và tải trọng hướng trục ở cả 2 phía.
4/ Vòng bi tròn tự lựa:
   Vòng bi này được thiết kế gồm vành trong gắn với 2 dãy bi cầu liên kết vành ngoài có hình rãnh cầu. Nhờ kiểu thiết kế này, vòng bi có thể hoạt động trong điều kiện có sự lệch trục. Thích hợp với trục dài, nơi gối đỡ khó có thể định vị chính xác. Loại này thường có thể có lỗ côn và được lắp với ống lót côn.
   Dùng trong những ứng dụng tải trọng hướng trục thấp nhờ sự hỗ trợ nhẹ dọc trục của viên bi bởi rãnh chạy vành ngoài.
4/ Vòng bi đũa trụ:
   Cấu trúc của loại vòng bi đũa trụ là loại đơn giản nhất trong tất cả các loại vòng bi hướng tâm. Thường được dùng những ứng dụng tốc độ cao. Bởi vành trong, vành ngoài và trục tiếp xúc trên một đường thẳng, nên chịu tải trọng hướng kính cao.
N,NJ,NF,NU,RNU: Gờ liền
NH,NP,NUP,NUH: Gờ liền và rời.
NN, NNU: Vòng bi hai dãy.
   Vòng bi đũa 2 dãy thường được dùng với tốc độ cao và độ chính xác cao.
Còn nữa

Nguồn: vòng bi tròn và đũa - Nachi

Ý Nghĩa Ký Hiệu Thông Số Bạc Đạn SKF

     Mỗi loại bạc đạn tiêu chuẩn có một chuỗi ký hiệu cơ bản thường gồm ba, bốn hoặc năm ... hoặc kết hợp giữa các chữ cái và chữ số. Các chữ số (hoặc các chữ cái và chữ số) trong ký hiệu bạc đạn tùy theo thứ tự trong dãy số có ý nghĩa như sau:

x x x x x 
- Chữ số hoặc chữ cái hay nhóm chữ cái đầu tiên qui định chủng loại bạc đạn:
  • 0: Bạc đạn đỡ chặn bi cầu hai dãy.
  • 1: Bạc đạn tự lựa bi cầu.
  • 2: Bạc đạn tự lựa tang trống và vòng bạc đạn chặn bi tang trống.
  • 3: Bạc đạn côn.
  • 4: Bạc đạn bi cầu 2 dãy.
  • 5: Bạc đạn chặn bi cầu.
  • 6: Bạc đạn chặn bi cầu một dãy.
  • 7: Bạc đạn đỡ chặn bi cầu một dãy.
  • 8: Bạc đạn chặn bi đũa.
  • N: Bạc đạn đũa.
  • NNU: Bạc đạn kim.
  • K: Bạc đạn côn
- Chữ số thứ 2 và 3 qui định nhóm kích thước.
  •  Chữ số thứ 2 qui định cấp chiều rộng hoặc chiều cao:
        + 0; 1; 2; 3; 4; 5: Bạc đạn thường, chiều rộng (B,T).
        + 7; 9; 1: Bạc đạn đỡ chặn, chiều cao H.
  • Chữ số thứ 3 qui định cấp đường kính: 8; 9; 0; 1; 2; 3; 4.
- 2 chữ số cuối cùng qui định kích thước lỗ bạc đạn. Trong chuỗi ký hiệu cơ bản nhân với 5 cho ta đường kích lỗ.
* Trường hợp đặc biệt:
  • 00 : 10mm
  • 01 : 12mm
  • 02 : 15mm
  • 03 : 17mm

* Đối với bạc đạn có đường kính lỗ trong nhỏ hơn hoặc bằng 10mm, hoặc đường kích lỗ trong lớn hơn 500mm thì đường kính lỗ bạc đạn ghi trực tiếp sau dấu "/". Ví dụ: 618/8 => d=8mm
Nguồn: Sổ tay tra cứu bạc đạn SKF

Công Nghệ Đúc Khuôn Cát

   Đúc trong khuôn cát là một phương pháp đúc truyền thống lâu đời và ngày nay vẫn còn sử dụng rộng rãi. Khuôn chỉ đúc được một lần (chỉ rót được một lần rồi phá khuôn). 

  Thành phần khuôn cát:
+ Cát: là thành phần chủ yếu SiO2
+ Đất sét: mAl2O3+nSiO2+qH2O
+ Chất kết dính: là những chất đưa vào trong hỗn hợp để tăng độ dẻo, tăng độ bền, dính các hạt lại với nhau. Thường dùng: dầu thực vật, đường , xi măng, trộn với cát, chất kết dính, chất phụ, chất phụ tăng độ xốp(mùn cưa, rơm rạ..).
+ Chất sơn khuôn: sơn vào bề mặt của tăng độ bóng bề mặt, bền nhiệt và chịu nhiệt.
   Khuôn được làm cùng với các ruột (nếu có) thông qua việc rã cát (dầm chặt), cùng với mẫu. Sau khi đã dầm chặt, mẫu được rút ra, để lại khoảng trống – chính là hình dạng của vật đúc cần chế tạo. Sau khi rót kim loại vào khuôn, đông đặc, và phá dỡ để thu được vật đúc. 
   Ngày nay, công nghệ mới là sản phẩm mẫu cháy được làm bằng polyestero. Khi rót kim loại vào khuôn, mẫu sẽ cháy và kim loại được điền đầy vào khuôn. 
 + Ưu điểm là đúc các chi tiết lớn, phức tạp hơn do có thể làm ruột.
 + Nhược điểm là Đúc khuôn cát có độ chính xác thấp, chất lượng bề mặt kém, năng xuất thấp, yêu cầu người thợ có trình độ khéo léo, từ khâu làm khuôn, ruột, đến rót kim loại vào khuôn.
  Do vậy, đúc khuôn cát hiện nay đang được sử dụng nhưng không chính xác. Đây chính là nguyên nhân đôi khi một số chi tiết lớn vài chục kg yêu cầu chính xác nên vẫn phải đúc khuôn kim loại..Phù hợp với sản xuất đơn chiếc.

 
Tham khảo: giáo trình công nghệ đúc khuôn cát, http://www.oto-hui.com/diendan/f352/cong-nghe-duc-khuon-cat-13770.html

VÀI SUY NGHĨ VỀ PHONG CÁCH SỐNG, PHONG CÁCH CÔNG TY

Phong cách
Phong cách là một thứ riêng biệt, không nhầm lẫn vào đâu được.
Người ta thường học theo, làm theo, lấy những thành công của người khác "làm của mình". Vì thế, PHONG CÁCH kiểu như vậy - chưa sinh ra mà đã mất. Mất, vì phong cách chỉ tồn tại khi khác biệt.
Phong cách của công ty cũng vậy. Có trăm vạn cách để người ta "tìm được tiền". Đâu cần sáng tạo gì ghê gớm, chỉ cần đừng-bắt-chước-aithì đã là khác biệt. 
Ai đó đã nói một câu trở thành kinh điển của kinh doanh: khác biệt hay là chết.
Thế giới tự nhiên sinh động đã cho chúng ta thấy một điều nhiệm mầu: Không có cái thứ hai giống hệt.
Sống
Sống - là một cách thụ hưởng cuộc sống, hơn là nén chịu để đợi chờ một lúc nào đó ở tương lai.
Sống - là cách biểu lộ phong cách, biểu lộ một cá tính luôn được hoàn thiện trong trải nghiệm.
PHONG CÁCH SỐNG của một công ty là sự biểu lộ thái độ ứng xử trong cuộc chiến.  Cuộc chiến nội tâm của chính mình, không phải với người khác.
Mục tiêu chất lượng cao nhất của công ty là được kết quả cao ở "chỉ số hạnh phúc". Chỉ số hạnh phúc có thể ló dạng trong quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện. 
Phong cách sống luôn cần sự năng động, luôn làm cho phù hợp với chung quanh - chung quanh vốn luôn được biến động từng khoảnh khắc.
Phong cách sống là thứ không hề có đợi chờ, hẹn hò ở mai sau. Phong cách sống thường được nhận thấy trong lúc đang sống.
Nếu lúc đang sống mà không nhớ, không suy nghĩ là phải ứng xử ra sao, thì khi đó có một PHONG CÁCH SỐNG đang tồn tại.
nguyentuonglinh
12/4/2012
( Cảm nhận về Phong cách Cty Cao su Việt: "Luôn thay đổi, luôn hoàn thiện", nhân kỷ niệm 22 năm ngày thành lập công ty, 14/4/1990)

Nguồn: http://nguyentuonglinh.blogspot.com/2012/04/vai-suy-nghi-ve-phong-cach-song-phong.html

Đo Biên Dạng Bề Mặt

    Ở đây, Tôi muốn giới thiệu với các bạn về việc sử dụng máy móc để đo biên dạng bề mặt một chi tiết:
    Với việc phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng cao thì việc ghép nối với máy tính để qua đó xử lý các số liệu đo sẽ trở nên đơn giản và mang lại hiệu quả rất nhiều.
    Khi người kỹ thuật viên muốn vẽ lại kích thước của một chi tiết nào đó, anh ta chỉ có thể đo được những biên dạng đơn giản bằng thước cặp hay panme. Còn đối với những biên dạng phức tạp hơn như bậc nghiêng, góc bo cung, góc lượn, biên dạng trong của lỗ, rãnh xoắn v.v..Đặt biệt, khi cần đo những chi tiết đòi hỏi độ chính xác cao thì không thể dùng phương pháp đo lường bình thường . Do vậy máy đo biên dạng có thể giải quyết một số vấn đề phức tạp trên.
     Máy đo biên dạng có thể lấy vết biên dạng đo, sau đó máy tính sẽ xử lý và đưa ra thông số về kích thước của biên dạng như khoảng cách, góc độ, bán kính cung, bước ren…
    Ngoài ra , đối với dòng máy tân tiến nhất, máy đo biên dạng còn cho biết thông số về độ nhám bề mặt, dung sai kỹ thuật...
 * Giới thiệu sơ lược về máy đo biên dạng CONTRACER CV 3100 do tập đoàn Mitutoyo Nhật Bản sản xuất. Máy đo biên dạng này sử dụng đầu dò để đo biên dạng ngoài với độ chính xác cao. Nó có những đặc tính sau.

  • Tốc độ di chuyển theo trục X tối đa là 80mm/s, và theo trục Z2 tối đa là 20mm/s cho phép hiệu chỉnh tốc độ cao và cung cấp công suất lớn cho nhiều biên dạng đo và nhiều chi tiết đo khác nhau.
  • Bộ cảm biến trục Z1 được trang bị cảm biến kỹ thuật số đo được biên độ rộng. Cụ thể, dòng máy CV-4100 cho độ chính xác cao, độ phân giải cao và cài đặt độ phân giải đến 0.05µm.
  • Thiết bị an toàn bên trong bộ cảm biến trục Z1 sẽ tự động ngừng hoạt động để ngăn chặn sự xung đột với chi tiết hay cơ cấu kẹp khi xảy ra va chạm. Bộ phận đo biên dạng có thể kết nối với bộ phận xử lý
Đo biên dạng chi tiết

Máy đo biên dạng CONTRACER CV 3100


Tham khảo : http://www.dimetrix.com/shopping_admin/product_details







Nhám Bề Mặt

1/ Bản chất nhám bề mặt:
    Còn gọi là độ bóng bề mặt. Bề mặt chi tiết sau khi gia công không bằng phẳng một cách lý tưởng mà có những mấp mô. Những mấp mô này là kết quả của quá trình biến dạng dẻo của lớp bề mặt chi tiết khi cắt gọt lớp kim loại, là ảnh hưởng của chuyển động khi cắt, là vết lưỡi cắt để lại trên bề mặt gia công và của nhiều nguyên nhân khác nữa...
    Tuy vậy, không phải toàn bộ những mấp mô trên bề mặt đều thuộc về nhám bề mặt, mà nó là tập hợp những mấp mô có bước tương đối nhỏ và được xét trong giới hạn chiều dài chuẩn (là chiểu dài của phần bề mặt được chọn để đo nhám bề mặt).
- Những mấp mô có tỉ số giữa bước mấp mô (p) và chiều cao mấp mô (h) ≤ 50 : thuộc nhám bề mặt.
- 50 ≤ p/h ≤ 1000 : thuộc sóng bề mặt.
- p/h > 1000 : sai lệch hình dạng
2/ Tầm quan trọng nhám bề mặt:
   Nhám bề mặt ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc của chi tiết máy. Đối với những chi tiết trong mối ghép động (ổ trượt, sống dẫn, con trượt...), bề mặt chi tiết làm việc trượt tương đối với nhau, nên khi nhám càng lớn càng khó đảm bảo hình thành màng dầu bôi trơn bề mặt trượt. Dưới tác dụng của tải trọng các đỉnh nhám tiếp xúc với nhau gây ra hiện tượng ma sát nửa ướt, thậm chí cả ma sát khô, dẫn đến làm giảm hiệu xuất làm việc, tăng nhiệt độ làm việc của mối ghép. Mặt khác tại các đỉnh tiếp xúc, lực tập trung lớn, ứng xuất lớn vượt quá ứng xuất cho phép gây biến dạng chảy phá hỏng bề mặt tiếp xúc, bề mặt làm việc nhanh mòn. Do vậy, nhám bề mặt ảnh hưởng lớn trong quá trình làm việc, gây hư hỏng và phá hủy cơ cấu máy.
    Ngược lại, nhám càng nhỏ thì bề mặt càng nhẵn, khả năng chống lại sự ăn mòn càng tốt. 
    Theo TCVN 2522-95, có 2 chỉ tiêu để đánh giá độ nhám: Ra, Rz
     - Ra: sai lệch trung bình số học các giá trị tuyệt đối của sai lệnh profin trong khoảng chiều dài chuẩn. Sai lệnh profin là khoản cách giữa các điểm đến đường trung bình. Thường sử dụng phổ biến.
    - Rz: trung bình của tổng các giá trị tuyệt đối của 5 đỉnh cao nhất và sâu nhất trong khoảng chiều dài chuẩn.
3/ Độ nhám bề mặt cũng có thể căn cứ vào phương pháp gia công để đạt độ nhám.
   - Gia công bào thô đạt Ra: 12.5 - 25; cấp chính xác IT12 - IT14.
   - Gia công bào, phay tinh đạt Ra: 3.2 - 6.3; cấp chính xác IT11 - IT13
   - Mài tinh đạt Ra: 0.8 - 1.6; cấp chính xác IT6 - IT8.
   - Đánh bóng thường đạt Ra: 0.2 - 1.6; cấp chính xác IT6


 Nguồn: tóm lược trang 77 - 82, Dung Sai và Lắp Ghép - tác giả Ninh Đức Tốn.

Ứng Dụng Tia Laser Trong Phẫu Thuật Cho Tế Bào



    Với chùm tia laser cực mạnh, kéo dài trong một phần triệu của một phần tỷ giây, các nhà nghiên cứu Anh đã cho bốc hơi các cấu trúc nhỏ bé bên trong tế bào mà không làm thương hại đến chính tế bào đó. Tương lai, kỹ thuật này có thể được dùng để thực hiện các cuộc vi phẫu thuật siêu chính xác.


 Nhà vật lý Eric Mazur của Đại học Harvard và cộng sự đã phá huỷ một tỷ thể đơn (nhà máy năng lượng) của tế bào, trong khi vẫn giữ cho hàng trăm cấu trúc khác ở cạnh đó còn nguyên vẹn, và cắt một mối liên kết thần kinh của tế bào mà không làm chết nó. Kỹ thuật này được nhóm nghiên cứu đặt tên là phẫu thuật nano laser.    “Loại dao mổ laser này sản sinh ra năng lượng tương đương với nhiệt lượng trong lòng mặt trời, nhưng chỉ kéo dài trong một phần mười luỹ thừa ba mươi của một giây, và phân bố trên một diện tích rất hẹp, có đường kính chỉ vài phần trăm triệu của một milimét”, Donald Ingber, một nhà sinh học tế bào tại Harvard, nói. Do sự tập trung năng lượng cao độ như vậy, ánh sáng sẽ chỉ đốt cháy điểm mà nó chiếu tới chứ không hề đụng chạm đến các mô xung quanh, và tế bào dễ dàng chịu đựng được ca vi phẫu.
    Các phương pháp thao tác bên trong tế bào hiện tại, như sử dụng ánh sáng hoặc từ trường, thường làm hư hại những mô xung quanh và có độ chính xác cũng kém hơn.
   Nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard đang xem xét ứng dụng phẫu thuật bằng laser trên tế bào động vật. Vài tháng trước, họ đã bắt đầu công trình này trên loài sâu nhỏ có tên khoa học là Caenorhabditis elegans. Bằng việc thiêu đốt một tế bào thần kinh đơn lẻ, nhóm đã loại bỏ được khả năng khứu giác của con vật này. Mazur cho biết, trong tương lai, các dao mổ laser có thể cắt sâu vào bên trong các mô mà không mở rộng vết thương của bệnh nhân, hoặc có thể dùng tiêu diệt các khối u ngay khi chúng còn ở giai đoạn trứng nước - tức chỉ có vài tế bào. Ngoài ra, kỹ thuật này có thể có ích trong việc nghiên cứu các quá trình bên trong tế bào, như sự phân chia của nó.


B.H. (theo Nature) - nguồn: http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2003/10/3b9cc0f9/

Gia Công Bằng Tia LASER

  LASER được viết tắc một thuật ngữ tiếng Anh: Light Amplication by Stimulated Emission of Radiation - khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cưỡng bức. Lý thuyết cơ sở đặt nền móng cho việc phát minh ra laser đã được nhà khoa học Emission nêu lên từ năm 1917. Nhưng mãi đến năm 1954 nhà khoa học Mỹ Ch.H Towner và hai nhà khoa học Nga là A.M. Prokhorov, N. G. Basov (giải Nobel chung năm 1946) mới đồng thời tìm ra được bức xạ cưỡng bức ở bước sóng vô tuyến của chữ amoniac. Và vào 16/05/1960 - Giáo sư vật lý người Mỹ Theodore Maiman đã thành công trong việc kích thích một thanh hồng ngọc tạo ra những chùm sáng hẹp có cường độ lớn bằng cách quấn quanh thanh hồng ngọc bằng một bóng đèn công suất lớn. 


    Nguyên lý cấu tạo chung của một máy laser gồm có: buồng cộng hưởng chứa hoạt chất laser, nguồn nuôi và hệ thống dẫn quang.
Cấu tạo tia Laser
   Nguồn năng lượng được tạo ra từ bộ điều khiển sự phóng điện tới đèn phát xung 2. Khi đèn phát sáng, toàn bộ năng lượng sẽ tập trung buồng cộng hưởng 1 chứa hợp chất laser (hồng ngọc (rubi), heli và neon, argen...). Những Ion của hợp chất laser bị kích lên mức năng lượng cao, khi tụt xuống chúng sẽ phát ra những lượng tử. Nhờ dao động của các gương phẳng 3 và 4, những lượng tử này sẽ đi lại nhiều lần qua hợp chất và kích các ion khác để rồi cùng phóng ra chùm tia lượng tử lớn và cứ thế khuếch đại lên nhiều lần. Tia sáng ở đầu ra là tia laser 5. 
    Trong kỹ thuật công nghiệp, tia laser dùng để gia công cắt gọt chi tiết kim loại. Khi tia sáng đã xuyên qua kính phản chiếu ở đầu ra, thì hình thành một tia nối tiếp nhau, đã được chuẩn trực rất mạnh. Tia sáng được điều chỉnh ở tiêu cự, hướng vào mặt phẳng của vật gia công. Tia laser có đường kính khoảng 0.01mm. Vật liệu gia công hút năng lượng của chùm tia laser và chuyển năng lượng này thành nhiệt năng. Đốt nóng vật liệu gia công tới nhiệt độ có thể làm nóng chảy và bốc hơi vật liệu. Được xem là máy cắt bằng tia sáng.
Ngoài ra tia laser còn được ứng rất nhiều trong các lĩnh vực khác như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, khoa học vũ trụ, y học...

Tham khảo: http://vi.wikipedia.org/wiki/Laser; Các Phương Pháp Gia Công Đặc Biệt - Đinh Văn Đệ

Gia Công Bằng Tia Lửa Điện

     Gia công bằng tia lửa điện ngày nay được sử  dụng rộng rãi nhờ những tính năng ưu việt của nó như không có lực cắt, gia công các vật liệu siêu cứng...Có thể gia công nhiều dạng bề mặt khác nhau với độ chính xác cao như gia công các lỗ trong khuôn, biên dạng thân khai của bánh răng, biên dạng cam, cắt đường có biên dạng spline, bề mặt bánh răng nghiêng...  
Bóc tách vật liệu trong quá trình gia  công tia lửa điện
      Nguyên tắc của phương pháp này là bắn phá chi tiết bằng tia lửa điện để tách vật liệu bằng nguồn năng lượng nhiệt rất lớn được sinh ra khi cho hai điện cực tiến gần nhau. Trong hai điện cực này, một đóng vai trò là dao và một đóng vai trò là phôi trong quá trình gia công. Tức là chi tiết được nối với điện cực + (anod), dụng cụ cắt được nối với cực - (catod). Cả cả chi tiết và điện cực được đặt trong dung dịch điện môi cách điện. Tiến hành cho hai điện cực này tiến gần lại với nhau, đến một khoảng cách nào đó mà xảy ra sự phóng tia lửa điện (khe hở khoảng 0.01-0.02mm). Dòng điện phải đóng ngắt liên tục trong thời gian rất ngắn thông qua máy phát xung răng cưa để làm phát sinh tia lửa điện. Nhiệt độ lên khoảng 12000 độ C làm nóng chảy lớp bề mặt vật liệu gia công. Lượng kim loại nóng chảy được làm nguội và hóa rắn thành những hạt hình cầu.

Tham khảo: Phương Pháp Gia Công Đặc Biệt - Đinh Văn Đệ



Tôi Và Ram Thép.

    Tôi thép là một phần không thể thiếu đối với những chi tiết cần tăng khả năng chống mài mòn, độ bền cao chịu tải lớn như là bánh răng, bánh xích, trục hộp số, thanh truyền, những chi tiết làm việc nhiều... 
   Để cho ra sản phẩm sau khi tôi được tốt nhất cần phải có chất lượng thép phải tốt. Tức là thép phải có hàm lượng cacbon 0,15-0,65%, vì khi hàm lượng cacbon quá thấp, mactenxit sau tôi sẽ có độ cứng thấp và hiệu quả tăng bền không đáng kể; ngược lại, khi hàm lượng cabon quá cao, thép sau tôi sẽ bị giòn. Ngoài ra tôi thép phải tuân theo một qui trình nghiêm ngặt như chọn nhiệt độ - thời gian tôi, tốc độ tới hạn và độ thấm tôi, môi trường tôi...
    Nhưng bên cạnh những ưu điểm trên, tôi có khuyết điểm đó là cứng, giòn, ứng suất bên trong lớn. Do vậy những nhà sản xuất thường sau khi tôi được qua một bước nữa đó là ram. Ram thép làm giảm ứng suất, điều chỉnh cơ tính cho phù hợp với môi trường làm việc.
   Ở nước ta, công nghệ luyện thép cũng rất phổ biến. Nhà máy luyện thép theo công nghệ  FINEX tại Vân Phong - Khánh Hòa của tập đoàn thép POSCO (Hàn Quốc). Công nghệ FINEX được biết là công nghệ luyện thép tiên tiến nhất: cho sản sản lượng lớn và công nghệ thân thiện với môi trường do có thể giảm đáng kể phát thải bụi asen, ô-xít lưu huỳnh và ô-xít ni-t


Tài liệu tham khảo: giáo trình nhiệt luyện

Năm Mới 2012.

    Năm 2011 đã qua đi, và năm 2012 lại đến. Bắt đầu một năm mới người ta thường có những kế hoạch và kỳ vọng một tương lai tốt đẹp hơn. Mỗi nơi người ta ấn định năm mới bằng nhiều cách khác nhau, phương tây thường dùng rượu còn phương đông thường dùng pháo hoa tất cả là để xua tan đi cái xấu và mang lại điều tốt lành hơn. Bao nhiêu bực nhọc năm qua đều gạt bỏ để mỗi người gặp nhau đều nở nụ cười và cùng chúc nhau sang năm mới gặp nhiều may mắn, vạn sự như ý. Nhiều khi cứ nghĩ mọi ngày đều là tết để mọi người luôn có nụ cười trên môi.
   Với Tôi, cũng như bao người khác, sang năm mới cũng có những kế hoạch và kỳ vọng năm 2012 sẽ có những điều tốt đẹp hơn đến với Tôi. Để có được những điều tốt đẹp đó, Ta phải làm việc và học nhiều hơn nữa. 

   Bài viết này là ấn định năm mới của Tôi, Tôi xin chúc mọi Người năm mới dồi dào sức khỏe và cùng Tôi bước sang năm 2012 đầy hứa hẹn này.